KHU LĂNG MỘ VÀ ĐỀN THỜ CÁC VỊ VUA TRIỀU TRẦN XÃ LONG HƯNG, TỈNH HƯNG YÊN

Khu Lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần toạ lạc tại thôn Tam Đường, xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên. Thời Lý vùng đất này có tên là Tinh Cương, tới thời Trần đổi tên thành Thái Đường thuộc huyện Ngự Thiên, phủ Long Hưng. Mảnh đất Long Hưng là đất phát tích, hưng nghiệp của vương triều Trần, một triều đại đã ghi vào sử sách những trang chói lọi nhất với ba lần đại thắng quân Nguyên Mông, một triều đại mà mỗi nhành cây ngọn cỏ đều thấm đẫm “Hào khí Đông A” rực lửa. Không chỉ vậy, nơi đây còn được biết đến chính là nơi đặt “huyệt thiêng” yên nghỉ vĩnh hằng của các bậc minh quân khởi đầu vương triều Trần.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: Tổ tiên nhà Trần là người đất Mân, sang định cư và làm nghề chài lưới tại đất Đông Triều (Quảng Ninh). Đến đời Trần Kinh chuyển về Tức Mặc (Nam Định) và qua đời ở đó. Con trai Trần Kinh là Trần Hấp, nhờ tìm được thế đất tốt đã di dời mộ bố về táng tại Mả Sao, hương Tinh Cương (tức vùng Thái Đường) và cư trú ở đó. Từ nghề chài lưới trên sông nước dần chuyển lên bờ định cư, phát nghiệp nông tang (từ năm Quý Sửu - 1133), tích lũy điền sản và trở nên giàu có. Trải 28 năm trước khi sinh Trần Lý, Trần Hấp đã gắn bó với vùng đất Thái Đường. Khi Trần Lý trưởng thành đã chuyển về định cư ở làng Hải Ấp (nay là xã Long Hưng). Chính sự thịnh vượng về kinh tế và uy thế ngày càng lớn mạnh trên vùng đất này đã tạo nền tảng vững chắc, đưa họ Trần từng bước tiến thân vào vũ đài chính trị.

Vào cuối triều Lý, binh biến đã xảy ra tại kinh thành Thăng Long, vua Lý Cao Tông phải lánh nạn lên miền Tuyên Hoá, còn Hoàng tử Sảm được đưa về ở nhà Trần Lý tại thôn Lưu Gia, miền Hải Ấp. Chính tại mảnh đất Long Hưng này, Hoàng tử Sảm đã kết duyên cùng Trần Thị Dung (con gái Trần Lý). Về sau, anh em họ Trần tập hợp hương binh dẹp loạn và hộ giá quân vương hồi cung. Năm 1210, vua Lý Cao Tông qua đời, Hoàng tử Sảm lên ngôi vua (tức Lý Huệ Tông). Sau khi lên ngôi, Lý Huệ Tông vì không có con trai và mắc bệnh trọng đã phó thác đại cuộc cho Trần Tự Khánh, rồi sau đó truyền ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng. Dưới sự sắp đặt của Thái sư Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh khi chưa đầy 10 tuổi, mở ra một triều đại mới - triều đại nhà Trần.

Ngay từ khi lập quốc, nhà Trần đã thực hiện hàng loạt cải cách thực tiễn: từ việc phân phong điền trang, thái ấp để khẩn hoang, trị thủy đến việc luyện tập quân Cấm vệ tinh nhuệ. Khi giặc Nguyên Mông xâm lược ập đến, vùng đất Long Hưng đã trở thành tuyến phòng thủ chiến lược, nơi nhân dân các làng Triều Quyến, Gạo, Vải, Quan Bế,... đồng lòng thực hiện kế sách “vườn không nhà trống”, cung cấp sức người sức của cho kháng chiến. Đặc biệt, sau thắng lợi lừng lẫy năm 1288, Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông đã chọn Long Hưng điện làm nơi mở tiệc mừng công. Tại Chiêu Lăng uy nghiêm, lễ dâng thắng trận đã được diễn ra. Đây không chỉ là khúc khải hoàn ca mà còn là minh chứng cho sức mạnh quật khởi của một dân tộc biết lấy dân làm gốc.

Từ khi còn làm nghề chài lưới, nhà Trần đã chọn hương Tinh Cương, phủ Long Hưng để đặt mộ tổ, để rồi từ đấy tiến về Thăng Long, mở nghiệp đế vương. Khi đã lấy được thiên hạ, nhà Trần lại chọn hương Tinh Cương làm nơi đặt tôn miếu và xây dựng lăng tẩm an táng các vị vua, hoàng hậu đầu triều Trần. Thái tổ Trần Thừa được an táng tại Thọ Lăng; Thái Tông táng tại Chiêu Lăng, Thánh Tông táng tại Dụ Lăng, Nhân Tông táng tại Đức Lăng. Sau ngày Thái Tổ Trần Thừa mất, hương Tinh Cương chính thức được gọi tên thành Thái Đường (chỉ vùng đất đặt lăng tẩm của vua và hoàng tộc). Về địa điểm an táng các vị vua Trần trong các bộ sách sử, thư tịch cổ của các triều đại về sau đều đề cập tới là ở đất Thái Đường (nay là xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên).

Khu Lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần toạ lạc trên khu đất rộng lớn, được quy hoạch với tổng diện tích 195,01 ha. Khu di tích gồm 02 phân khu chính: Khu lăng mộ và khu đền thờ:

  1. KHU LĂNG MỘ (còn gọi là Khu di chỉ khảo cổ học)

Vốn là mảnh đất có lịch sử hình thành từ sớm, được ghi nhận là đất phát tích, hưng nghiệp, nơi đặt tông miếu của nhà Trần với hành lang Ngự Thiên bảo vệ nên vùng Long Hưng nói chung, thôn Tam Đường nói riêng có nhiều các mộ phần, di chỉ nhất là những phế tích kiến trúc thời Trần.

Ngược dòng thời gian về trước năm 1945, trên địa bàn Tam Đường vẫn còn đền thờ các vua Trần, tạo thành thế “tiền tam thai hậu thất tinh”. Phía trước đền (phía Nam) có 3 ngôi mộ lớn là: Phần Trung, Phần Bụt, Phần Đa, chếch về phía Tây - ở vị trí cách đê sông Hồng gần 500m có một ngôi mộ cổ, nhân dân quen gọi là Phần Cựu. Phía Đông Bắc đền thờ có Mả Tít, Vườn Màn, Bến Ngự và chùa Bến. Phía sau đền thờ (phía Bắc) có 7 ngôi mộ đối diện với Phần Trung, Phần Bụt, Phần Đa, tạo thành thế “tiền tam thai hậu thất tinh”. Khu thất tinh gồm phần Ốc, Quang, Ổi, Lợn, Mao, Gà và phần Bà Già. Tương truyền, phần Ốc là nơi đặt mộ cụ Trần Hấp, phần Quang là lăng mộ của Nguyên tổ Trần Lý, các phần còn lại trong khu “thất tinh” là nơi chôn cất các hoàng hậu công chúa đầu triều Trần. Tuy nhiên, trải qua hàng trăm năm với nhiều biến động thăng trầm của lịch sử đã khiến cho toàn bộ di chỉ, mộ phần trong khu "thất tinh" đã bị mất, chỉ còn lại khu "tam Thai" hay còn gọi là Khu lăng mộ.

Ngày nay, khu Lăng mộ các vị vua Trần có tổng diện tích 38.221 m2 gồm:

- Phần Đa (tức Chiêu Lăng) là nơi an nghỉ của vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh), vị vua đầu tiên của triều đại nhà Trần ở thể kỷ XIII của nước Đại Việt.

- Phần Trung (tức Dụ Lăng) là nơi an nghỉ của vua Trần Thánh Tông - vị vua thứ hai của triều Trần. Sử sách mô tả là vị vua anh minh, văn võ toàn tài, giữ vững được cơ nghiệp của triều đại và độc lập quốc gia với ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông xâm lược trên cả cương vị là Thái tử và khi lên ngôi vua.

-  Phần Bụt (tức Đức Lăng) là nơi yên nghỉ của vua Trần Nhân Tông (Trần Khâm), vị vua thứ ba của triều Trần. Ông được xem là một vị vua anh hùng, văn võ song toàn, thông minh lỗi lạc, tinh thông Phật pháp, đồng thời chính là người sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

2. KHU ĐỀN THỜ

Trước kia, đền có tên là “Trần đế miếu”, được xây trên khu đất cao ráo, thoáng đãng. Ngôi đền có bố cục mặt bằng tổng thể hình chữ Nhị gồm: 07 gian Tiền tế, 05 gian Hậu cung. Các cấu kiện và thành phần kiến trúc đều được làm bằng gỗ tứ thiết, chạm trổ cầu kỳ đề tài tứ linh, tứ quý vô cùng sinh động. Trong đền thờ các vị vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, phối thờ Thượng hoàng Trần Thừa và các vị hoàng hậu đầu triều Trần. Trải qua thời gian, ngôi đền đổ nát và bị phá hủy. Năm 1990, ngôi đền được phục dựng lại. Hiện nay, khu đền gồm các hạng mục: đền Vua (ở giữa), đền Thánh (ở phía Đông, bên tả đền Vua) và đền Mẫu (ở phía Tây, bên hữu đền Vua). Các hạng mục công tình được bố trí hài hoà, cân đối phù hợp với không gian cảnh quan của di tích. Cả ba công trình này đều quay hướng Nam, hướng về khu Lăng mộ.  

Đền Vuađược xây dựng với diện tích 6.498m2, nơi thờ ba vị vua đầu triều Trần (Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông), phối thờ Thượng hoàng Trần Thừa và các vị cao tổ, tằng tổ nhà Trần là Trần Kinh, Trần Hấp, Trần Lý, cùng hai người có công mở nghiệp nhà Trần là Trần Thị Dung, Trần Thủ Độ. Đền quay hướng Nam, gồm các hạng mục: cổng, sân tế, giếng ngọc, đền Mẫu, tiền tế, trung tế, hậu cung và hai dãy giải vũ.

Đền Thánhđược xây dựng theo dạng thức truyền thống, diện tích 6.011m2, gồm các hạng mục: cổng, sân tế, lầu chiêng, lầu trống, tiền tế, phương đình, trung tế, hậu cung và giải vũ,… Đền là nơi thờ Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, phu nhân Nguyên Từ Quốc mẫu và hai con gái là Quyên Thanh Quận chúa, Đại Hoàng Công chúa.

Đền Mẫuthờ các vị quốc mẫu và công chúa đầu triều Trần, tổng diện tích 6.228 m2, với các hạng mục chính: giếng ngọc, bình phong, sân tế, giải vũ, tiền tế, trung tế và hậu cung.

Khu Lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần không chỉ mang trong mình giá trị lớn lao về lịch sử của một triều đại kiêu hùng, rực rỡ bậc nhất thời kỳ phong kiến mà tụ thân khu di tích còn mang giá trị văn hóa vô cùng sâu sắc. Khu di tích là trung tâm sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng từ bao đời nay của người dân Long Hưng và du khách thập phương. Hằng năm, lễ hội truyền thống tại khu di tích diễn ra từ ngày 13 đến ngày 16 tháng Giêng để tưởng nhớ các vị vua, hoàng hậu, quan văn bá võ cùng tôn thất triều Trần đã có công với nước với dân. Trong lễ hội, ngoài nghi thức rước nước, nghinh giá, khai chiêng và tế tự còn có nhiều tục, lệ, trò diễn dân gian, như: thi cỗ cá, vật cầu, đấu gậy, thả diều, chọi gà, nấu cơm cần,.... đặc biệt là những sinh hoạt văn hoá gắn với tục kết chạ giữa hai làng Tam Đường và Vân Đài vẫn được duy trì từ ngày 14 tới ngày 16 tháng 2. Đây là một trong những lễ hội lớn của tỉnh Hưng Yên và khu vực, có sức hấp dẫn đặc biệt đối cộng đồng và du khách.

Với những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học đặc biệt, di tích lịch sử Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần đã được xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ. Trước đó, Lễ hội đền Trần đã được ghi danh vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia theo Quyết định số 231/QĐ-BVHTTDL ngày 27/01/2014 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Việc hội tụ ở cả hai phương diện vật thể và phi vật thể không chỉ là nén tâm nhang thành kính dâng lên tiên tổ, mà còn là sự khẳng định đanh thép về một hào khí Đông A vẫn luôn rực cháy trên mảnh đất phát tích Long Hưng. Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần mãi là biểu tượng sáng ngời của tinh thần tự cường và lòng tự hào dân tộc muôn đời của mỗi người dân Việt Nam./.


Các tin khác

Tin mới nhất

Xem nhiều nhất

Fanpage

Bình chọn

Đánh giá của bạn về Trang Thông tin điện tử tổng hợp Đối ngoại Hưng Yên
2 người đã bình chọn

Thống kê truy cập

  • Hôm nay:
  • Hôm qua:
  • Tuần này:
  • Tháng này:
  • Năm nay: