VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, KINH TẾ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỈNH HƯNG YÊN MỚI (SAU 01/7/2025)

1. Vị trí địa lý

Sau khi thực hiện chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình đã được hợp nhất thành một tỉnh mới, giữ tên gọi là tỉnh Hưng Yên. Trung tâm hành chính – chính trị của tỉnh đặt tại thành phố Hưng Yên, thuộc địa giới tỉnh Hưng Yên cũ.

Tỉnh Hưng Yên có diện tích tự nhiên 2.638 km2 và phần không gian biển với diện tích khoảng 487 km2, gồm 104 đơn vị hành chính cấp xã; quy mô dân số khoảng 3.235.167 người; Là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Sông Hồng; Là cửa ngõ phía đông nam Thủ đô Hà Nội, cách Thủ đô Hà Nội 54 km về phía Đông Nam, có vai trò chiến lược trong phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

Tỉnh Hưng Yên có vị trí tiếp giáp như sau:

Phía Bắc giáp Thủ đô Hà Nội, tỉnh Bắc Ninh và thành phố Hải Phòng;

Phía Nam giáp tỉnh Ninh Bình;

Phía Đông giáp thành phố Hải Phòng và Biển Đông;

Phía Tây giáp Thủ đô Hà Nội và tỉnh Ninh Bình.

Với mạng lưới sông ngòi phong phú như sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, tỉnh sở hữu tiềm năng lớn về giao thông thủy, nông nghiệp và công nghiệp phụ trợ.

Trên địa bàn tỉnh có hệ thống các tuyến giao thông đường bộ quan trọng như: Quốc lộ 5A, 39A, 38, 38B, QL10, QL39, QL1, QL5, QL21B hệ thống đường thủy và hàng hải liên quan đến sông Hồng và Vịnh Bắc Bộ... Đặc biệt đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng được thông xe từ năm 2015 với độ dài 105,5 km từ Hà Nội qua Hưng Yên đến Hải Phòng. Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Dương - Hải Phòng, nối Hưng Yên với các tỉnh phía Bắc như: Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh.

Tỉnh Hưng Yên có hệ thống sông Hồng, sông Luộc chảy qua, đồng thời gần các cảng biển như Hải Phòng, Cái Lân, gần sân bay quốc tế Nội Bài, sân bay Cát Bi tạo thành mạng lưới giao thông thuận lợi cho giao lưu hàng hoá và đi lại.

Việc nằm trong vành đai kinh tế ven vịnh Bắc Bộ với 54km bờ biển, thuận lợi về giao thông hàng hải và các nguồn lợi từ biển là một ưu thế lớn cho sự phát triển, mở rộng giao thương và miền ảnh hưởng của Tỉnh tới các vùng kinh tế khác trong nước và quốc tế. Mặt khác việc tiếp giáp trực tiếp với 128km sông Hồng với cửa biển Ba Lạt và các cửa biển của hệ thống sông Thái Bình như cửa Thái Bình, Diêm Hộ, Trà Lý và cửa Lân là một lợi thế lớn có thể nhờ đó khai thác các tiềm năng về giao thông vận tải, vận chuyển hàng hóa, thương mại dịch vụ, du lịch và các giao lưu văn hóa - xã hội của tất cả các vùng miền, các nền văn minh liên quan đến tuyến sông này trong mối quan hệ chi phối bởi kinh tế biển và lục địa.

Sau sáp nhập, tỉnh Hưng Yên có 104 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 93 xã và 11 phường.

2. Đặc điểm điều kiện tự nhiên

2.1. Địa hình

Địa hình tỉnh Hưng Yên khá bằng phẳng với độ dốc thấp hơn 1%; độ cao phổ biến từ 1-2 m so với mực nước biển, thấp dần từ Bắc xuống Nam. Hưng Yên là một tỉnh duy nhất của vùng Đồng bằng Sông Hồng không có núi.

2.2. Địa chất

Tỉnh Hưng Yên nằm trong một ô trũng thuộc đồng bằng sông Hồng, được cấu tạo bằng các trầm tích bở rời thuộc kỷ Đệ Tứ, có chiều dày từ 150 đến 160 m. Theo thứ tự, địa tầng bao gồm các loại đất đá như sau:

- Các trầm tích Phistoxen, bề dày 130 m đến 140 m với các trầm tích vụn thô gồm: sạn, sỏi, cát thô, cát trung có xen kẹp các thấu kính bột, bao gồm các  tầng bồi tích sông kiểu đá cuội, sạn, cát đa khoáng xen kẹp các lớp sét mỏng màu xám, màu nâu, nâu gụ, bề dày đạt 75 m đến 80 m và kiểu hỗn hợp cát, sét, sét cát màu xám, màu nâu, nâu gụ, bề dày đạt 50 m đến 60 m.

- Các trầm tích Haloxen, bề dày 5 m đến 30 m thành phần chủ yếu là sét cát, sét bột, sét chứa hữu cơ, phân bổ trên mặt địa tầng bao gồm các lớp:

+ Bồi tích sông biển hỗn hợp từ cát, cát sét, chiều dày trên dưới 10 m.

+ Bồi tích biển từ sét cát, sét màu xám, chiều dày 3 m đến 7 m.

+ Bồi tích sông hiện đại, chủ yếu phân bổ ở dải cục bộ ven sông Hồng, có chiều dày 3 m đến 5 m, thành phần là sét pha cát, cát pha sét.

2.3. Môi trường khí hậu

Hưng Yên thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, bốn mùa rõ rệt. Số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng 1.650 giờ. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,2°C, nhiệt độ trung bình mùa hè 25°C, mùa đông dưới 20°C. Nhiệt độ trung bình 23,2oC, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 16oC.

Lượng mưa trung bình 1.450 - 1.650 mm, nhưng phân bố không đều trong năm. Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) tập trung tới 70% lượng mưa cả năm, gây úng lụt, ảnh hưởng xấu đến sản xuất. Mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) lạnh và thường có mưa phùn, thích hợp cho gieo trồng nhiều loại cây ngắn ngày có giá trị kinh tế.

Nhìn chung, chế độ khí hậu, thời tiết của Hưng Yên rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, các chế độ nhiệt, ẩm, nắng cho phép canh tác nhiều vụ cây trồng ngắn ngày trong năm và thích hợp để bố trí một cơ cấu cầy trồng, vật nuôi đa dạng.

2.3. Thủy văn

Hưng Yên có mạng lưới thủy văn dày đặc, hai mặt giáp sông, một mặt giáp biển. Hệ thống sông ngòi của Hưng Yên khá dày và phân bố khá đều giữa các vùng nội tỉnh, chủ yếu thuộc hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình.

- Hệ thống sông Hồng: Bắt nguồn từ Vân Nam Trung Quốc, ở độ cao trên 1.000m, vào địa phận vùng Tây Bắc Bộ, qua vùng Đồng bằng sông Hồng, đến Hưng Yên, gồm: Sông Hồng, sông Luộc và sông Trà Lý.

- Sông Luộc là phân lưu của sông Hồng, chảy qua địa phận Hưng Yên, từ xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà (cũ) đến xã An Khê, huyện Quỳnh Phụ (cũ), có chiều dài 53km, chiều rộng lòng sông trung bình 100 - 300m.

- Sông Hóa là phân lưu của sông Luộc, bắt nguồn từ xã An Khê, huyện Quỳnh Phụ (cũ) chảy dọc địa giới hành chính giữa Hưng Yên và Hải Phòng, sau đó đổ vào sông Thái Bình tại xã An Tân, huyện Thái Thụy (cũ) đổ ra cửa sông Thái Bình, chiều dài sông Hóa chảy qua tỉnh Hưng Yên 35km, bề rộng lòng sông trung bình 100 - 250m.

- Sông Trà Lý là phân lưu của sông Hồng, toàn bộ dòng chảy thuộc địa phận tỉnh Hưng Yên, bắt đầu từ xã Hồng Minh, huyện Hưng Hà (cũ) sau đó đổ ra vịnh Bắc Bộ tại cửa Trà Lý, sông có tổng chiều dài 65km. Bề rộng lòng sông trung bình 100 - 200m.

 - Hệ thống các cửa sông: Bao gồm cửa Trà Lý - sông Trà Lý, cửa Diêm Hộ - kênh Diêm Hộ (hay còn gọi là cửa Trà Linh), cửa Thái Bình - sông Hóa, cửa Lân - kênh Kiến Giang, cửa Ba Lạt (Sông Hồng).

Chế độ thủy triều ở tỉnh Hưng Yên là nhật triều khá thuần nhất. Biên độ dao động tối đa của thủy triều từ 3,0 đến 3,5m, trung bình từ 1,7 đến 1,9m và tối thiểu từ 0,3 đến 0,5m. Mực nước triều lớn nhất nhiều năm có thể đạt 4,0m và thấp nhất khoảng 0,08m. Độ cao thủy triều trung bình 1,8m, độ cao tuyệt đối từ 0,6 đến 3,8m. Số ngày triều cường từ 3m trở lên có từ 152 đến 176 ngày. Do biên độ thủy triều lớn nên độ mặn xâm nhập vào các cửa sông khá sâu: 22km trên sông Hồng; 20km trên sông Trà Lý.

3. Tài nguyên thiên nhiên và du lịch

3.1. Tài nguyên đất

Diện tích đất tự nhiên của tỉnh Hưng Yên tính đến 31/12/2024 là 263.784 ha, hiện đang khai thác sử dụng 97,06% diện tích, trong đó sử dụng vào các mục đích nông nghiệp 164.352 ha (62,31% diện tích tự nhiên); vào các mục đích phi nông nghiệp là 91.693 ha (34,76% diện tích tự nhiên).

Đặc điểm tài nguyên đất của tỉnh chủ yếu là đất phù sa màu mỡ thuộc đồng bằng sông Hồng, không có đồi núi và có xu hướng thấp dần về phía Nam và Đông.  Thành phần cơ giới của đất, từ đất thịt nhẹ đến đất thịt pha nhiễm chua và nghèo lân, có thể chia thành 09 loại chính:

Nhìn chung, đa phần các loại đất ở Hưng Yên có độ phì khá, thích hợp để canh tác nhiều loại cây trồng ngắn ngày và lâu năm. Về cơ bản, tài nguyên đất của Hưng Yên đáp ứng được yêu cầu phát triển của một nền nông nghiệp thâm canh với cơ cấu sản phẩm đa dạng. Đây là cơ sở khá thuận lợi để Hưng Yên chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng phát triển nông sản hàng hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế và hiệu quả sử dụng đất.

3.2. Tài nguyên nước

3.2.1. Nguồn nước mặt

Nằm trong hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, là hai hệ thống sông lớn nhất ở miền Bắc nên Hưng Yên có nguồn nước mặt rất dồi dào. Hưng Yên có số lượng sông ngòi khá dày đặc gồm các sông lớn là Sông Hồng, Sông Luộc, Sông Hóa, Sông Trà Lý, sông Tiên Hưng, sông Cửu An, sông Sặt, sông Kim Sơn, sông Kim Ngưu, cùng các kênh, ngòi, ao, hồ, đầm... đã tạo nên nguồn nước mặt vô cùng phong phú, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tưới tiêu, sinh hoạt và sản xuất của nhân dân.

3.2.2. Nguồn nước ngầm

Toàn tỉnh thuộc khu vực nằm trong trầm tích bở rời hệ thứ tư có nguồn nước biển hỗn hợp, nên khả năng tàng trữ nước ngầm rất tốt, đặc biệt là tầng chứa nước cát, cuội, sỏi ở độ sâu 90 - 120 m, nước áp lực nên mực nước ngầm cách mặt đất 0,5 - 10 m rất thuận lợi cho quá trình khai thác. Nước dưới đất tồn tại trong 4 tầng chứa nước, phân bố rộng khắp trên toàn diện tích của tỉnh (3 tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ và 1 tầng chứa nước khe nứt trong trầm tích Neogen). Giữa các tầng chứa nước đều có các lớp thấm nước yếu nên hầu hết các tầng chứa nước đều có tính áp lực, nhiều nơi áp lực nước cao hơn mặt đất. Các tầng chứa nước nhìn chung đều có đặc tính thuỷ hoá phức tạp, nước mặn và nhạt biến đổi theo cả phương ngang và phương thẳng đứng.

Với nguồn tài nguyên nước dồi dào và phân bố khá đều, Hưng Yên có thuận lợi về nguồn nước để bố trí khai thác, sử dụng đáp ứng phát triển kinh tế - xã hội.

3.3. Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học

3.3.1. Tài nguyên rừng

Tổng diện tích rừng của tỉnh là 4,155,51 ha theo Quyết định số 268/QĐ-UBND ngày 21/02/2025 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về công bố hiện trạng rừng năm 2024. Đặc điểm rừng Hưng Yên là rừng ven biển gồm hai kiểu rừng: rừng ngập mặn và rừng trên cạn (Phi lao). Toàn bộ diện tích rừng trên là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng thuộc địa bàn của 8 xã ven biển, rừng trồng chủ yếu là các loài cây ngập mặn như: Bần chua, Trang, Vẹt, Sú…

Tài nguyên rừng chịu tác động của biến đổi khí hậu làm suy giảm diện tích, chất lượng rừng tại một số vị trí. Một số hiện tượng điển hình như: rét đậm, rét hại làm chết cây; bão làm mất rừng; thay đổi dòng chảy, xói lở, cát bồi làm mất rừng; sinh vật gây hại Hà, Cáy làm chết cây...

3.3.2. Đa dạng sinh học

Thảm thực vật ngập mặn là khu vực nằm trong vùng bồi tụ của hệ thống sông Hồng, sông Lân, sông Trà Lý, sông Thái Bình, sông Diêm Hộ. Lượng phù sa nhiều và giàu chất dinh dưỡng, bãi bồi rộng nhưng do địa hình trống trải, gió, sóng tác động mạnh nên dọc ven biển rừng mọc tự nhiên không nhiều, chủ yếu do trồng. Rừng ngập mặn tạo thành thảm có diện tích lớn tập trung tại khu vực các xã ven biển: Đông Thụy Anh, Thái Thụy, Thái Ninh, Đông Thái Ninh, Đông Tiền Hải, Đồng Châu, Nam Cường, Hưng Phú. Các quần xã chủ yếu trong hệ sinh thái rừng ngập mặn: Quần xã tiên phong: Mắm biển dọc các bãi lầy gần cửa sông Bần, Trang, Sú; quần xã hỗn hợp đứng: Đước vòi, Trang và các loài khác như Vẹt, Sú; quần xã cây bụi thấp: Sú chiếm ưu thế, các loài phụ là Vẹt dù, mắm biển; quần xã cây nước lợ.

Bước đầu thống kê trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có 731 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 149 họ, trong đó có: 435 loài cây thuốc, 41 loài cây lấy gỗ, 19 loài cho sợi, 149 loài cây cảnh. Hệ động vật gồm có các loài thú được con người nuôi như trâu, bò, lợn, dê, thỏ; các loài chim thường gặp như cò, sẻ, chim sâu, chim cu gáy và một số loài chim cảnh như sáo, vẹt... cùng các loài gia cầm khác; nhóm bò sát gồm một số loài rắn; động vật lưỡng cư: thường gặp một số loài ếch, nhái, cóc và những loài cá tự nhiên và cá nuôi.

3.4. Nguồn lợi thuỷ sản nước mặn-lợ

Bờ biển của tỉnh dài 54 km với hàng chục nghìn km2 lãnh hải, tiềm năng hải sản khá dồi dào với trữ lượng ước tính khoảng 26.000 tấn, trong đó trữ lượng cá 24.000 - 25.000 tấn, tôm 600 - 1.000 tấn, mực 700 - 800 tấn. Sản lượng đánh bắt nuôi trồng hải sản khoảng 18.415 tấn/năm. Ngoài ra, các khu vực cửa sông và ven bờ có khả năng lớn về nuôi trồng thuỷ sản như tôm, cua, sò, nghêu...

Hiện nay, trên địa bàn của tỉnh đã quai vùng đê bao khoảng 4.000 ha đầm mặn, lợ để nuôi trồng thuỷ sản, trong đó diện tích nuôi trồng hữu hiệu khoảng 3.287 ha nuôi tôm, cua, rau câu... Bên cạnh đó, vùng ven biển này có tiềm năng lớn khai thác phát triển nghề làm muối.

3.5. Tài nguyên khoáng sản

Tiềm năng khoáng sản tỉnh Hưng Yên tương đối lớn, đến nay trên địa bàn tỉnh đã điều tra, phát hiện và quy hoạch những khoáng sản sau:

Khí đốt: Phân bố ngoài khơi vùng biển Tiền Hải đang được khai thác phục vụ cho công nghiệp gốm, sứ, thủy tinh.

Than nâu: Có 01 mỏ than nâu thuộc bể than nâu vùng Đồng bằng sông Hồng, được đánh giá có trữ lượng rất lớn (trên 30 tỷ tấn).

Sét gốm Hưng Hà: Đây là điểm sét gốm duy nhất tại Hưng Yên có trữ lượng cấp P2, có chất lượng trung bình, đảm bảo các chỉ tiêu để sản xuất gốm.

Khoáng sản sét gạch ngói vật liệu xây dựng: Là nguyên liệu chính để sản xuất gạch ngói; Căn cứ theo quyết định số 2410/QĐ-UBND ngày 25 tháng 08 năm 2017 thực hiện điều chỉnh quy hoạch thăm dò khai thác đất sét để chế biến làm vật liệu xây dựng thông thường tỉnh Hưng Yên đến năm 2020, cụ thể tỉnh đã bổ sung mới 13 điểm mỏ đất sét để chế biến làm gạch, ngói nhằm cung cấp nguyên liệu tại chỗ cho các nhà máy gạch tuynel và loại bỏ 33 điểm mỏ đất sét khỏi quy hoạch do không còn phù hợp với thực tiễn, không thực hiện được hoặc do nằm vào vùng quy hoạch đất cho các mục đích khác hoặc nằm trong vùng cấm, tạm thời cấm hoạt động khoáng sản.

Nước khoáng: Hiện tại ở Hưng Yên có các mỏ nước khoáng đã được đầu tư khai thác ở độ sâu từ 415m đến 450m   bao gồm LK61B, LK78 (xã Đông Cơ), LK82A (xã Tây Ninh).

Ngoài ra Nước khoáng nước nóng tập trung ở trung tâm thôn An Cầu và Trà Dương thuộc xã Tống Trân, huyện Phù Cừ trong tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Pleistocen dưới ở độ sâu 50-85 m có nhiệt độ nước nóng từ 30-38,50C, hàm lượng silic từ 50-72,76 mg/l với trữ lượng 6.852 m3/ngày trong đó trữ lượng khai thác tối ưu 5.700 m3/ngày và trong tầng Neogen tương ứng là 3.298 m3/ngày và 1.000 m3/ngày. Độ tổng khoáng hóa của nước vào tháng 8-12/2017 đạt 1,0-1,72 g/l thuộc thể loại nước khoáng ấm, loại hình hóa học cơ bản chủ yếu là Bicarbonat. Nước khoáng nước nóng tại xã Tống Trân phù hợp cho mục đích sử dụng ngâm, tắm điều dưỡng, trị liệu nhiệt và có thể xử lí hàm lượng sắt tổng và tiệt trùng để làm nguồn nước khoáng thiên nhiên đóng chai.

Cát sông: chủ yếu là nguồn cát trên sông Hồng, sông Luộc với trữ lượng khoảng 83,5 triệu m3, có thể khai thác đáp ứng nhu cầu xây dựng trong tỉnh.

Cát ven biển: Tỉnh Hưng Yên có 54 km bờ biển (từ cửa sông Thái Bình đến cửa Ba Lạt). Cát ven biển tỉnh Hưng Yên được đánh giá là có trữ lượng rất lớn, theo Quyết định số 03/2020/QĐ-UBND ngày 17/02/2020 của UBND tỉnh, có 25 mỏ cát biển, diện tích là 22.860.000 m2, tài nguyên dự báo 123.704.400 m3.

3.6. Tài nguyên du lịch

Du lịch Hưng Yên bao gồm cả tài nguyên du lịch văn hóa và tài nguyên du lịch tự nhiên, có thể phát triển du lịch theo hướng: du lịch văn hóa - tâm linh, lịch sử - sinh thái - nghỉ dưỡng... Đặc biệt là tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, khám phá, nghỉ dưỡng, với các khu vực phát triển du lịch như: Khu du lịch sinh thái Ecopark, Khu du lịch Cồn Đen (huyện Thái Thụy), Khu du lịch Cồn Vành (huyện Tiền Hải), Khu di tích Phố Hiến, đền Chử Đồng Tử - Tiên Dung, cùng với các làng nghề truyền thống như Làng Nôm, Làng Hương Cao Thôn, và Làng nghề Tương Bần, Khu Di tích Đền thờ và Lăng mộ các vua Trần (huyện Hưng Hà), Khu di tích Chùa Keo (huyện Vũ Thư), các khu dự trữ sinh quyển: khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng (nằm trên địa bàn các xã ven biển ) đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới từ năm 2004 với những giá trị nổi bật toàn cầu về đa dạng sinh học và có ảnh hưởng lớn đến sự sống của nhân loại… Với điều kiện vị trí và nguồn tài nguyên du lịch phong phú cả về tài nguyên du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn, Hưng Yên có tiềm năng lớn về phát triển du lịch nếu được đầu tư đúng mức và hợp lý.

4. Điều kiện văn hóa, xã hội, dân cư, nguồn nhân lực

4.1. Về văn hoá, lịch sử

Nhân dân vùng đất Hưng Yên có truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm, lao động cần cù và hiếu học, có những nhân vật tài ba lỗi lạc xuất hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau: có thầy thuốc giỏi như Hải Thượng Lãn Ông, có biệt tài về quân sự như Phạm Ngũ Lão, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Bình..., các  nhà thơ Đoàn Thị Điểm, Chu Mạnh Trinh... Trong thời kỳ cách mạng, nhiều anh hùng lực lượng vũ trang, anh hùng lao động, thầy thuốc, nhà giáo ưu tú... của tỉnh Hưng Yên đã đóng góp lớn cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước.

Hưng Yên là tỉnh có hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, đa dạng. Toàn tỉnh 3.716 di tích các loại, có 2.244 di tích trong Danh mục kiểm kê, 06 di tích, khu di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; 284 di tích, cụm di tích xếp hạng quốc gia, 884 di tích, cụm di tích xếp hạng cấp tỉnh; 12 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận là Bảo vật quốc gia; 30 Di sản văn hóa được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia;[A2]  còn lưu giữ 1.152 lễ hội truyền thống; 128 đơn vị ca dao, tục ngữ, hò, vè, sự tích, hát ru, văn tế; 128 loại hình tri thức dân gian; 257 làng nghề thủ công truyền thống, một số lễ hội tiêu biểu của tỉnh: lễ hội Đa Hòa - Dạ Trạch, Lễ hội đền An Xá (Đậu An), Lễ hội đình Quan Xuyên, Lễ hội cầu mưa chùa Thái Lạc...Những di tích nổi tiếng có thể kể đến như: Khu di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến; di tích Đền An Xá; di tích chùa Thái Lạc; Đền Đa Hoa- Dạ Trạch; di tích quốc gia đặc biệt chùa Keo và Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần...những di tích kiến trúc lịch sử tôn tạo, các danh thắng thiên nhiên, cảnh quan nhân văn là nguồn tài nguyên du lịch văn hoá có giá trị cho phát triển du lịch.

Công tác kiểm kê, bảo quản; sưu tầm tài liệu, hiện vật; nghiên cứu: đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang bị hệ thống giá kệ mới đồng bộ, tủ bảo quản tài liệu phim ảnh, hiện vật chất liệu giấy, hệ thống điều hòa, nhiệt độ, máy đo độ ẩm, không khí đáp ứng được yêu cầu về công tác kiểm kê, bảo quản hiện vật. Kết quả: Kiểm kê tài liệu hiện vật: 69.671 hiện vật; bảo quản trị liệu: 5.280 hiện vật; bảo quản phòng ngừa: 69.671 hiện vật; Sưu tầm được 4.792 hiện vật; Nghiên cứu xuất bản 5 ấn phẩm như: Thần tích tỉnh Hưng Yên (02 tập), Tư liệu Châu bản triều Nguyễn về Hưng Yên (02 tập) Địa danh làng xã tỉnh Hưng Yên qua tài liệu địa bạ Triều Nguyễn (01 tập), Sắc phong trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tập V.

Ứng dụng chuyển đổi số trong lĩnh vực Bảo tàng: Số hoá Bảo vật quốc gia: Tượng Phật Quan âm thiên thủ thiên nhãn chùa Mễ Sở; Bệ tượng sư tử đá chùa Hương Lãng; Tháp đất nung đền An Xá; sưu tập đĩa vàng Cộng Vũ. Số hoá 3D hàng trăm tài liệu hiện vật đang được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh, thực hiện Tour 360 số hoá không gian trưng bày tại Bảo tàng tỉnh: Giới thiệu không gian trưng bày Bảo tàng tỉnh Hưng Yên; số hoá không gian trưng bày các chuyên đề “Ký ức thời chiến”, “Hưng Yên với Cách mạng Tháng Tám năm 1945”; số hoá không gian trưng bày cố định tạm thời phần I “Hưng Yên từ khởi thuỷ đến thế kỷ XIX”; số hoá không gian trưng bày cố định tạm thời phần II “Hưng Yên từ khi có Đảng đến nay”.

Hiện nay, tỉnh đang tập trung nguồn lực triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị đô thị cổ Phố Hiến gắn với phát triển du lịch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 744/QĐ-TTg ngày 27/5/2010.

Thực hiện có hiệu quả Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 02/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa giai đoạn 2021-2030 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Sở đã tiến hành số hóa được 37 di tích xếp hạng quốc gia đặc biệt và di tích xếp hạng quốc gia…Tại các điểm di tích được số hóa, Sở đã triển khai ứng dụng công nghệ quét mã QR Code, App hướng dẫn tham quan, công nghệ xoay 360 độ giúp du khách dễ dàng tiếp cận thông tin, hình ảnh, video, thuyết minh đa ngữ (Việt – Anh – Pháp) về di tích và hiện vật.. Bên cạnh đó, Sở đã số hóa sưu tập Bảo vật quốc gia “Đĩa vàng hoa sen Cộng Vũ” gồm 05 hiện vật, 19 hiện vật Bảo tàng; trên 10.000 trang lý lịch hiện vật, tài liệu địa bạ triều Nguyễn tỉnh Hưng Yên và 84 hiện vật tiêu biểu được sưu tầm tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, góp phần tạo nền tảng cho việc xây dựng Bản đồ số di tích Hưng Yên trong thời gian tới.[A3] 

4.2. Dân cư và nguồn nhân lực[NV4] 

Năm 2025, dân số Hưng Yên đạt 3.235.167 người trong đó: dân số nam 1.605.360 người, chiếm 49,62%; dân số nữ 1.629.807 người, chiếm 50,38%; dân số thành thị 454.476 người, chiếm 14%; dân số nông thôn 2.780.691 người, chiếm 86%.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2025 của tỉnh đạt 1.700 nghìn người, tăng 29 nghìn người so với năm 2021, trong đó, phân theo giới tính tỷ lệ: Nam chiếm 48,72%, nữ chiếm 51,28%. Phần lớn LĐ tập trung ở khu vực nông thôn với 88,30% so với tổng số LĐ từ 15 tuổi, còn lại 11,70% LĐ ở khu vực thành thị.

Số lượng, chất lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế có xu hướng chuyển dịch tăng hàng năm trong giai đoạn 2021-2025.


Các tin khác

Tin mới nhất

Xem nhiều nhất

Fanpage

Bình chọn

Đánh giá của bạn về Trang Thông tin điện tử tổng hợp Đối ngoại Hưng Yên
4 người đã bình chọn

Thống kê truy cập

  • Hôm nay:
  • Hôm qua:
  • Tuần này:
  • Tháng này:
  • Năm nay: