(Lược trích bài viết của Tiến sĩ LÊ QUANG CHẮN, Phó Viện trưởng Viện Sử học, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam)

Sơn Nam là một trong những đơn vị hành chính, kinh tế và văn hóa quan trọng bậc nhất của Đại Việt. Năm 1466, trong cuộc cải cách hành chính quy mô lớn của vua Lê Thánh Tông, khu vực này thuộc thừa tuyên Thiên Trường và năm 1469 chính thức được đổi tên thành thừa tuyên Sơn Nam, năm 1480 đổi thành xứ Sơn Nam, đến thời Lê Tương Dực (1510) gọi là trấn Sơn Nam; thời Lê Trung hưng (1741) được chia thành Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ, phản ánh sự phát triển cũng như vị thế đặc biệt của vùng đất này trong cơ cấu quản lý hành chính quốc gia.
Sơn Nam là vùng đất rộng lớn, nằm ở phía Nam kinh thành Thăng Long, bao trùm phần lớn khu vực phía Đông Nam đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, tương ứng với toàn bộ các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, phần lớn Hưng Yên, Ninh Bình, Hà Tây cũ, một phần Hà Nội và Hòa Bình trước đây (ngày nay thuộc Hà Nội, Hưng Yên, Ninh Bình). Theo các nguồn sử liệu, Sơn Nam có đến 11 phủ, 42 huyện, là thừa tuyên có số lượng phủ, huyện và dân số lớn nhất trong hệ thống 13 thừa tuyên dưới triều Lê Thánh Tông. Không chỉ có vị trí chiến lược về hành chính và quân sự, Sơn Nam còn là trung tâm kinh tế, văn hóa và giáo dục tiêu biểu của Đại Việt, nơi hội tụ nhiều làng xã đông đúc, đồng ruộng màu mỡ, hệ thống sông ngòi thuận lợi cùng truyền thống văn hiến và khoa bảng lâu đời. Chính những điều kiện lịch sử, địa lý và văn hóa đặc sắc ấy đã tạo nên một không gian văn hóa tiêu biểu của đồng bằng Bắc Bộ, góp phần sản sinh nhiều danh nhân, trí thức lớn của dân tộc, trong đó có Lê Quý Đôn.
Nếu chỉ căn cứ vào sử liệu chính thống thì Lê Quý Đôn là người làng Diên Hà (nay thuộc xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên). Tuy nhiên, hệ thống bia ký, gia phả và thần tích lại cho thấy không gian văn hóa Sơn Nam mới thực sự là môi trường nuôi dưỡng sự hình thành của cả gia đình họ Lê.
Theo các nguồn tư liệu khác nhau, khi gia cảnh sa sút sau khi cha (cụ Phúc Lý công) mất, Lê Trọng Thứ đã đến làng Thổ Hoàng (nay thuộc xã Ân Thi, tỉnh Hưng Yên) theo học Tiến sĩ Hoàng Công Chí. Tại đây, nhờ cần cù, siêng năng và thông minh, ông trở thành học trò giỏi. Thấy sức học tốt, thầy Hoàng Công Chí đã biên thư cho con rể là Trương Minh Lượng (đang làm quan trong triều, quê ở thôn Nguyễn, xã Tiên Nội, nay là phường Duy Tiên, tỉnh Ninh Bình) và gửi Lê Trọng Thứ cho ông trông nom, giúp đỡ. Hai vợ chồng Trương Minh Lượng và Hoàng Thị Huệ đã quyết định cho Lê Trọng Thứ lên Kinh đô Thăng Long theo học thầy Vũ Thạnh ở Hào Nam. Năm 1720 ông thi đỗ Hương cống, được vào học tại Quốc Tử Giám. Năm 1724, ông thi đỗ Tiến sĩ và cũng trong năm đó ông kết duyên cùng bà Trương Thị Ích (con gái thứ ba của Tiến sĩ Trương Minh Lượng)[1].
Như vậy, toàn bộ bước ngoặt quan trọng nhất trong cuộc đời của người cha là Lê Trọng Thứ đều bắt nguồn từ vùng đất Sơn Nam, khi được đào tạo trong môi trường khoa bảng, được các danh sĩ ở Sơn Nam nâng đỡ, từ đó tạo lập gia đình và từng bước bước vào con đường khoa cử và quan trường. Chính nền tảng đó đã tạo nên môi trường học thuật của gia đình, nơi sau này đào tạo nên Bảng nhãn Lê Quý Đôn. Điều này cho thấy Sơn Nam không chỉ là địa bàn gắn bó mật thiết với Lê Trọng Thứ mà còn là cái nôi quan trọng hình thành truyền thống học thuật của gia đình Lê Quý Đôn. Một điểm nổi bật từ các nguồn tư liệu gia phả là Lê Quý Đôn gần như hòa nhập hoàn toàn vào mạng lưới thế gia vọng tộc của Sơn Nam.
Gia đình của Lê Quý Đôn đã thiết lập mối quan hệ với nhiều dòng họ lớn:
- Dòng họ Trương ở Khả Duy, với Tiến sĩ Trương Minh Lượng là ông ngoại của Lê Quý Đôn. Hai cha con Lê Trọng Thứ và Lê Quý Đôn còn được lưu danh tấm bia Duy Tiên huyện tiên hiền liệt vị bi (Bia các vị tiên hiền huyện Duy Tiên) dựng vào ngày tốt tháng 8 giữa mùa Thu năm Canh Thìn, niên hiệu Tự Đức thứ 33 (1880)[2].
- Với dòng họ Hoàng ở Thổ Hoàng, với Tiến sĩ Hoàng Công Chí. Tên của hai cha con ông được khắc dựng tại Văn chỉ của huyện Ân Thi, thể hiện rõ trong tấm bia Truy tự tiên sư tiên hiền bi ký khắc dựng năm Chính Hòa thứ 19 (1698)[3]...
- Được vinh danh tại Văn miếu Xích Đằng, khi tên của hai cha con ông được khắc dựng tại bia số 7 (bao gồm 14 người, tên Lê Trọng Thứ ở vị trí số 6, tên của Lê Quý Đôn ở vị trí số 10)[4]. Lý do của việc này là, khi dựng bia (từ bia số 1 đến bia số 8 được dựng năm 1888, bia số 9 dựng năm 1943 để bổ sung các vị đại khoa của các huyện Yên Mỹ, Mỹ Hào, Văn Lâm ở phía Bắc và một phần huyện Ân Thi ở phía đông, giáp với Hải Dương), ba huyện Duyên Hà, Hưng Nhân và Thần Khê chưa tách khỏi tỉnh Hưng Yên. Ngày 21 tháng 3 năm 1890, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định số 152 thành lập tỉnh Thái Bình mới, bao gồm phủ Thái Bình, phủ Kiến Xương (tách từ tỉnh Nam Định) và huyện Thần Khê (tách từ tỉnh Hưng Yên). Ngày 28 tháng 11 năm 1894, Toàn quyền Đông Dương tiếp tục ra Nghị định cắt hai huyện Duyên Hà, Hưng Nhân của tỉnh Hưng Yên sang tỉnh Thái Bình, lấy sông Luộc làm danh giới giữa hai tỉnh Hưng Yên và Thái Bình...
Tất cả những mối quan hệ trên đã chứng minh rằng, Lê Quý Đôn không chỉ có nhiều gắn bó với vùng đất Sơn Nam mà còn trở thành một thành viên của tầng lớp tinh hoa của Sơn Nam.
Trong suốt quá trình 30 năm làm quan, có những thời điểm Lê Quý Đôn trực tiếp được triều đình cử đi thanh tra, kinh lý tại vùng đất Sơn Nam. Năm 1756, khi được cử đi xét hỏi quan lại các trấn lộ miền Tây Nam (trong đó có Sơn Nam), ông đã tâu lên vau Lê chúa Trịnh về “các quan ở phủ huyện, có bọn Nguyễn Duy Thuần thanh liêm, cần mẫn, bọn Trịnh Thụ tham nhũng, thối nát, gồm 13 người, hoặc thăng hoặc truất khác nhau”[5]. Năm 1773, ông cùng Phạm Huy Đĩnh đi tra xét vùng Sơn Nam Hạ để làm lại sổ hộ tịch, đã “trích ra được hơn chín ngàn mẫu ruộng lậu thuế, đều đăng ký vào ngạch thuế bắt phải chịu tô”[6]. Đặc biệt, năm 1774 trước tình cảnh trấn Sơn Nam bị thiếu đói, ông dâng sớ xin triều đình quyên tiền, thóc để phát chẩn, bớt thuế vụ chiêm, giảm việc bắt phu, đồng thời cho khám đạc ruộng ngoài quanh đê ven biển, cho đắp đê, mô dân đến cày cấy[7]... Chính những chuyến đi thực tế này, vừa giúp ông hiểu rõ hơn về đời sống của quan lại, nhân dân vùng Sơn Nam, đồng thời thu lượm, chắt lọc nhiều tư liệu bổ ích cho việc biên soạn các tác phẩm của mình...
Từ việc đối chiếu giữa sử liệu chính thống với hệ thống bia ký, gia phả, thần tích và truyền thuyết địa phương, có thể khẳng định rằng mối quan hệ giữa Lê Quý Đôn với vùng đất Sơn Nam trong thế kỷ XVIII là mối quan hệ hữu cơ và đa tầng. Sơn Nam không chỉ là địa bàn hoạt động của thân phụ Lê Trọng Thứ, mà còn là môi trường đào luyện học vấn, nơi hình thành các mối quan hệ chính trị, hôn nhân, học thuật, đồng thời là không gian văn hóa lưu giữ lâu dài ký ức về gia đình họ Lê ở Diên Hà.
Ở chiều ngược lại, bằng tài năng, uy tín và sự nghiệp trước tác của mình, Lê Quý Đôn đã góp phần nâng cao vị thế văn hiến của Sơn Nam trong lịch sử dân tộc. Vì vậy, có thể xem mối quan hệ giữa Lê Quý Đôn và Sơn Nam là mối quan hệ tương tác hai chiều: Sơn Nam góp phần tạo dựng nên nhà bác học lớn của thế kỷ XVIII, còn Lê Quý Đôn trở thành biểu tượng tiêu biểu làm giàu thêm truyền thống khoa bảng và bản sắc văn hóa của vùng đất Sơn Nam. Đây cũng là một minh chứng sinh động cho vai trò của các trung tâm văn hóa địa phương trong việc hình thành và phát triển tầng lớp trí thức Nho học ở Việt Nam thời Lê Trung hưng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Mai Khánh: “Đôi nét về các nhà khoa bảng họ Trương quê ở Hà Nam” trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Tế tửu Quốc Tử Giám Trương Công Giai và truyền thống khoa bảng họ Trương Việt Nam, Hà Nội, tháng 7 năm 2014, tr. 88.
2. Lê Quốc Việt: “Cụm bia văn từ huyện Duy Tiên”, Thông báo Hán Nôm học năm 2002, tr. 614.
3. Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, tuyển chọn - lược thuật, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, tr. 909.
4. Nguyễn Thuấn: “Văn miếu Xích Đằng tỉnh Hưng Yên”, Hội thảo khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám và Hệ thống di tích Nho học ở Việt Nam, Hà Nội, 2009, tr. 429.
5. Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007, tập Hai, tr. 630.
6. Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007, tập Hai, tr. 706.
7. Đại Việt sử ký tục biên (1767- 1789), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr. 360.
https://baohungyen.vn/le-quy-don-voi-vung-dat-son-nam-3197699.html
Nguồn trích dẫn: baohungyen.vn