Nằm ở trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng, Hưng Yên từ lâu nổi danh là vùng đất hiếu học, giàu truyền thống khoa bảng. Trong thời kỳ phong kiến, cùng với sự phát triển của nền giáo dục Nho học và chế độ khoa cử, đặc biệt từ thời Lê sơ đến thời Nguyễn, nơi đây trở thành một trong những địa phương có nhiều người đỗ đạt của cả nước. Từ những mái trường làng đến các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình, nhiều thế hệ sĩ tử Hưng Yên đã bền bỉ đèn sách, lập thân bằng con đường học vấn, góp phần làm rạng danh quê hương và phụng sự đất nước.

Giới thiệu lịch sử khoa cử và truyền thống hiếu học tại Văn Miếu Xích Đằng.
Đất học ngàn đời
Lịch sử khoa cử ở nước ta kéo dài gần 9 thế kỷ, từ khoa thi đầu tiên năm 1075 đến khoa thi cuối cùng năm 1919 dưới triều Nguyễn. Trải qua 185 khoa thi Nho học, cả nước có 2.898 vị đỗ đại khoa, từ Phó bảng đến Trạng nguyên. Riêng vùng đất Hưng Yên ngày nay có hơn 300 vị đỗ đại khoa, cùng hệ thống di tích Nho học còn được bảo tồn là minh chứng cho bề dày văn hiến và truyền thống khoa bảng của quê hương.
Hai vị khai khoa của vùng đất này là Tiến sĩ Đặng Nghiêm và Trạng nguyên Đỗ Thế Diên, cùng đỗ đầu khoa thi năm 1185. Từ nền móng ấy, qua các triều đại, Hưng Yên đã sản sinh nhiều bậc đại khoa, danh thần, danh nho như: Quách Đình Bảo, Bùi Sĩ Tiêm, Lê Như Hổ, Nguyễn Tông Quai, Phạm Đôn Lễ, Đoàn Nguyễn Thục, Nghiêm Vũ Đằng, Nguyễn Xuân Huyên, Nguyễn Quang Bích, Đào Nguyên Phổ... Mỗi người ở một thời đại, một cương vị khác nhau nhưng đều dùng tài năng, học vấn để phụng sự đất nước, làm rạng danh truyền thống khoa bảng của quê hương.
Bên cạnh những người đỗ đại khoa, Hưng Yên còn nổi tiếng với nhiều dòng họ khoa bảng, nhiều đời nối tiếp truyền thống học hành, đỗ đạt. Tiêu biểu là dòng họ Lê ở làng Liêu Xá (xã Nguyễn Văn Linh) với 6 vị đại khoa; trong đó có bốn cha con cùng đỗ Tiến sĩ là: Lê Hữu Danh, Lê Hữu Hỷ, Lê Hữu Mưu và Lê Hữu Kiều. Phát huy truyền thống hiếu học ấy, dòng họ còn sản sinh nhiều nhân vật kiệt xuất, tiêu biểu là Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác - Danh nhân văn hóa thế giới được UNESCO thông qua Nghị quyết vinh danh. Cùng với đó là dòng họ Đỗ ở làng An Bài (xã Phụ Dực) nhiều đời đăng khoa với Hoàng giáp Đỗ Toàn, Tiến sĩ Đỗ Toại và Hoàng giáp Đỗ Cảnh. Đôi câu đối còn lưu giữ tại từ đường dòng họ: “Toàn tộc lục đại khoa liên đăng ngũ thế - Nhất môn tam Hoàng giáp hựu trúng tam khôi” không chỉ là niềm tự hào của dòng họ mà còn là minh chứng sinh động cho truyền thống hiếu học, khoa bảng được gìn giữ và nối tiếp qua nhiều thế hệ trên vùng đất này.
Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Thanh cho biết, từ khoa thi năm 1185 dưới triều Lý, mạch nguồn khoa bảng của vùng đất Hưng Yên ngày nay không ngừng được bồi đắp qua các triều đại. Đến thời Trần xuất hiện Hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn; sang thời Lê sơ và Lê Trung Hưng, truyền thống khoa bảng phát triển rực rỡ với nhiều vị đại khoa ở hầu khắp các phủ, huyện thời bấy giờ. Đặc biệt, khoa thi Nhâm Thân năm 1752 ghi dấu ấn khi cả nước chỉ lấy đỗ 6 vị đại khoa thì vùng đất Hưng Yên ngày nay có tới 4 người đỗ đạt gồm: Tam nguyên Bảng nhãn Lê Quý Đôn, Hoàng giáp Đoàn Nguyễn Thục, Tiến sĩ Nghiêm Vũ Đằng và Tiến sĩ Nguyễn Xuân Huyên.
Theo nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Thanh, chính truyền thống ấy đã tạo nên vị thế của Hưng Yên như một vùng đất học tiêu biểu trong lịch sử khoa cử Việt Nam. Giá trị lớn nhất của truyền thống khoa bảng nơi đây không chỉ nằm ở số lượng người đỗ đạt mà còn ở việc hình thành một môi trường xã hội coi trọng việc học, nuôi dưỡng nhiều dòng họ khoa bảng và đào tạo nên những hiền tài có công lao, đức hạnh, để lại dấu ấn trong lịch sử dân tộc. Nhiều người sau khi qua đời được Nhân dân tôn thờ làm phúc thần, được sử sách ghi danh.

Học sinh nghe giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp của Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn.
Những tấm bia lưu danh hiền tài
Những tấm bia Tiến sĩ là chứng tích sống động lưu dấu truyền thống khoa bảng của Hưng Yên qua nhiều thế kỷ. Tại di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội), trường đại học đầu tiên của Việt Nam được xây dựng năm 1076 dưới triều Lý, hiện còn lưu giữ 82 bia Tiến sĩ khắc ghi tên tuổi 1.307 lượt người đỗ Tiến sĩ từ năm 1442 đến năm 1779.
Theo Phòng Nghiên cứu, Sưu tầm (Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám), có 57 trong tổng số 82 bia ghi danh 156 vị đại khoa quê Hưng Yên, chiếm gần 70% số bia Tiến sĩ và gần 12% tổng số Tiến sĩ được vinh danh. Đặc biệt, bia khoa thi Đinh Mùi (1487) ghi danh 8 trong tổng số 60 Tiến sĩ là người Hưng Yên, tiêu biểu như: Quách Đình Bảo, Phạm Công Trứ, Quách Hữu Nghiêm. Bên cạnh đó, hơn 70 Giám sinh quê Hưng Yên từng theo học tại Quốc Tử Giám là minh chứng cho vị thế nổi bật của Hưng Yên trong lịch sử giáo dục và khoa cử nước nhà.
Văn Miếu Xích Đằng (phường Sơn Nam) được xây dựng vào năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), không chỉ là nơi tôn vinh đạo học mà còn là thiết chế văn hóa tiêu biểu, biểu tượng của truyền thống hiếu học và khoa bảng xứ Nhãn. Xưa kia, Văn Miếu Xích Đằng là nơi tổ chức các kỳ thi Hương và các đợt sát hạch sĩ tử trước khi dự thi. Hiện nay, di tích lưu giữ 9 bia Tiến sĩ khắc tên 161 vị đại khoa quê Hưng Yên theo địa giới hành chính thời bấy giờ. Trong đó, có 8 bia được dựng năm Đồng Khánh thứ 3 (1888) và một bia dựng năm Bảo Đại thứ 18 (1943), ghi danh các bậc hiền tài từ thời Trần đến thời Nguyễn. Những tấm bia đá không chỉ lưu giữ tên tuổi các vị đại khoa mà còn là minh chứng sinh động cho truyền thống hiếu học, trọng nhân tài của Hưng Yên qua nhiều thế kỷ.
Ngày nay, cùng với việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản, truyền thống khoa bảng của Hưng Yên tiếp tục được lan tỏa thông qua các hoạt động nghiên cứu, giáo dục truyền thống, tham quan và trải nghiệm tại các di tích. Những giá trị của truyền thống hiếu học, trọng nhân tài vì thế không ngừng được gìn giữ, bồi đắp, trở thành nguồn động lực để các thế hệ hôm nay tiếp nối truyền thống và viết tiếp mạch nguồn hiếu học của quê hương.
Dương Miền
https://baohungyen.vn/tu-hao-vung-dat-khoa-bang-3197700.html
Nguồn trích dẫn: baohungyen.vn